Kỷ niệm 113 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (05/6/1911 – 05/6/2024): Bước ngoặt lịch sử

Thứ ba - 04/06/2024 20:21 355 0
Ngày 5-6-1911, tại Bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn – Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành khi đó mới vừa tròn 21 tuổi đã lên chiếc tàu mang tên Amiral La Touche De Tréville, ra đi tìm đường cứu nước.
Hành trình của người thanh niên yêu nước ấy đã hình thành nên chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh; từ đó mở ra cho dân tộc Việt Nam một con đường tiến tới độc lập, tự do. Đó còn là một hành trình nhân văn, ở đó, tấm gương về lòng dũng cảm, đức hy sinh của Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi khắc ghi trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Bối cảnh lịch sử

Trong thời Bắc thuộc, có một số vị trạng nguyên của người Giao Chỉ bị trưng dụng qua phục vụ các triều đại phong kiến Trung Quốc, dù được trọng đãi nhưng vẫn nặng lòng cố quốc. Thế kỷ XV, Nguyễn Phi Khanh bị giặc Minh bắt và đày qua phương Bắc, tới ải Nam Quan còn căn dặn con trai là Nguyễn Trãi hãy quay trở về tìm đường cứu nước, cứu dân, đó mới là đạo hiếu nghĩa.

Thời Pháp thuộc, có một số ông vua triều Nguyễn bị đày biệt xứ, gửi thân phận ở xứ người (Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân); Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đều ra đi mỗi người một phương trời, người thì hướng về văn minh phương Tây (đến Pháp), người thì hướng về văn minh phương Đông (sang cầu cứu Nhật Bản), nhưng đều có kết cục không có đường ra cho lịch sử nước nhà. Còn trong nước, có tới vài chục cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, mang đủ màu sắc, rốt cuộc đều bị kẻ thù “dìm trong biển máu”. Có nhiều lý do biện minh cho sự thất bại, nhưng chung quy có mấy lý do chủ yếu, đó là:

Trong thời đại chủ nghĩa tư bản thịnh trị nửa cuối thế kỷ XIX, các nước tư bản phương Tây rất khát khao mở rộng thị trường, tìm nguồn tài nguyên để vơ vét đưa về chính quốc và bóc lột sức lao động ở thuộc địa. Xứ An Nam là một trong những nước phong kiến nghèo nàn, lạc hậu, nên không tránh khỏi họa xâm lăng và mất quyền tự chủ.

Triều đình nhà Nguyễn ra đời từ mối hận thù giai cấp, coi nhà Tây Sơn và giai cấp nông dân là “giặc cỏ”, “phản loạn”, nên đã dồn đủ mọi kế sách để báo oán, tận diệt nhà Tây Sơn, phòng bị đối phó với nông dân. Mặt khác, Nguyễn Ánh chính là người cầu cứu thực dân Pháp qua đánh Tây Sơn, nên triều Nguyễn không đủ tư cách để đại diện cho lực lượng lãnh đạo tối cao trong cuộc kháng Pháp.

Các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược bùng nổ mạnh, lan rộng hầu khắp từ miền Trung ra miền Bắc, tới miền Đông Nam Kỳ, dù dưới danh nghĩa hưởng ứng chiếu Cần Vương hay mang tính chất nông dân, thì cũng chỉ bị khuôn lại bởi tư tưởng phong kiến lỗi thời, suy tàn. Có thời điểm sau khi vua Tự Đức băng hà, Pháp đã thao túng triều Nguyễn, bốn tháng thay tới 3 vua; các văn thân, sĩ phu, hay anh hùng nông dân như Hoàng Hoa Thám đều chưa đủ tầm nhìn xa, trông rộng. Duy chỉ có nhận thức của Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu hướng tới văn minh tư sản, nhưng các ông cũng chưa vượt lên trên vòng kim cô của chế độ phong kiến. Hơn nữa, các ông cũng chưa đủ khả năng nhận ra bản chất áp bức, bóc lột của thực dân, đế quốc.

Trước họa xâm lăng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc bị chia năm xẻ bảy. Trong triều đình thì phái chủ chiến và phái chủ hòa tranh đoạt quyền bính. Bên ngoài thì lòng dân chán ngán triều đình; dân gian bấy giờ rêu rao “vua là tượng gỗ, dân là thân trâu”. Kẻ thù thì lại hoàn toàn khác so với các loại giặc xâm lăng phong kiến trước đây, bọn họ là thế giới tư bản phương Tây, hơn hẳn ta về thang bậc phát triển.

 Những hạn chế lịch sử nêu trên, chỉ có thể được phát hiện và tìm cách gỡ đúng nút thắt bởi Nguyễn Tất Thành - đây là người được sinh ra cho những quyết định mở đường mới cho lịch sử nước nhà. Sứ mệnh lịch sử của Nguyễn Tất Thành được khởi sự bằng sự kiện cách đây 113 năm, ngày 5-6-1911. Động cơ ra đi của Nguyễn Tất Thành có nhiều điểm khác những thế hệ đi trước và cùng thời. Trước hết là sự “tò mò chính trị” bởi một số thuật ngữ mới lạ từ phương Tây, như: Tự do, bình đẳng, bác ái. Những từ ngữ đó không phải các nước văn minh (tự xưng, tự cao ngạo) cho rằng, họ đã phát kiến như cuộc phát kiến địa lý, mà thực chất là bởi sự tiến hóa của nhân loại từ mông muội tới văn minh, từ áp bức nô dịch tới đấu tranh giai cấp, giải phóng con người.

Những thuật ngữ đó rất cuốn hút tâm trí của Nguyễn Tất Thành, vì hằng ngày, thâu đêm suốt sáng, cậu thiếu niên trạc 13 đến 15 tuổi đã chứng kiến cảnh nô dịch dã man. Phong kiến Nam triều thì là cường hào ác bá, còn thực dân Pháp thì là ác quỷ mắt xanh mũi lõ, thân phận dân ta như kiếp trâu ngựa, biết lối nào mà thoát. Các bậc cha chú của Nguyễn Tất Thành thường tụ nghĩa bàn chuyện cơ sự thâu đêm, nhưng chưa thấy ai thành công, chỉ thấy máu chảy, đầu rơi.

Bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam

Trong bối cảnh đầu thế kỉ XX, dưới ách thống trị của chế độ thực dân phong kiến, chứng kiến đất nước trong cảnh lầm than, nhân dân ta “Một cổ hai tròng”, bị chà đạp, áp bức, bóc lột tàn bạo, nhiều phong trào yêu nước đã nổ ra như phong trào Cần Vương, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh, phong trào Đông kinh nghĩa thục của Phan Bội Châu… nhưng tất cả đều thất bại.

Ngưỡng mộ và kính trọng lòng yêu nước, dũng cảm, kiên cường của các bậc tiền bối, với tấm lòng yêu nước sâu sắc, sự trăn trở về vận mệnh dân tộc, bằng sự hiểu biết của bản thân, Nguyễn Tất Thành sớm nhận ra dân tộc cần phải có con đường mới phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử để giành lại độc lập, tự do. Nung nấu quyết tâm đi tìm con đường đó, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã đi bộ từ Phan Thiết để tới Sài Gòn, tìm cơ hội đến phương Tây, thực hiện ước mơ cháy bỏng đó. Đây chính là bước ngoặt quan trọng, mở đầu cho quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành. Đến ngày 5-6-1911, trên con tàu Amiral La Touche De Tréville từ bến cảng Nhà Rồng, tự giới thiệu là Văn Ba xin làm phụ bếp, Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, bắt đầu cuộc hành trình 30 năm tìm con đường giải phóng dân tộc.
 
Ngày 5-6-1911, từ bến Nhà Rồng – cảng Sài Gòn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc, ra đi trên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville để thực hiện hoài bão giải phóng nước nhà khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Cũng chính nhờ chọn hướng đi đúng đắn sang phương Tây, Hồ Chí Minh được tiếp xúc với nhiều nền văn hóa mới, tư tưởng mới. Bằng tư duy độc lập, tự chủ, Người đã gạn lọc và tiếp thu những hạt nhân hợp lý, làm giàu thêm vốn văn hóa của bản thân, để vươn lên tầm cao của văn hóa nhân loại, trở thành nhà văn hóa vừa mang đậm chất Á Đông, vừa hết sức cởi mở, hòa hợp với văn hóa phương Tây. Đặc biệt, nhờ chọn hướng đi sang phương Tây, Hồ Chí Minh đã có điều kiện để gặp gỡ, nghiên cứu và tiếp thu chủ nghĩa Mác Lê-nin, thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng, giúp giải quyết triệt để sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Trong vòng 10 năm, từ 1911 đến năm 1920, Người đã đến nhiều nơi trên thế giới. Bàn chân của Người đã từng in dấu trên nhiều nước thuộc các đại lục Âu, Á, Phi, Mỹ. Đặc biệt, Người đã dừng chân khảo sát khá lâu ở 3 nước đế quốc lớn nhất thời đó là Mỹ, Anh và Pháp. Qua những chuyến đi, gặp những người dân ở các giai cấp, Người thực sự hiểu rằng, chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ cho giai cấp công nhân và nhân dân ở các nước chính quốc cũng như thuộc địa.

Nhận thức được xu thế phát triển tất yếu của lịch sử và tính chất của thời đại mới mà Cách mạng Tháng Mười mở ra, Người xác định con đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, khám phá ra chân lý lịch sử: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Người đã viết: “Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế III “.

Con đường tất yếu của dân tộc

Mang trong mình lòng yêu nước nồng nàn cùng với những năm tháng tìm tòi không mệt mỏi về lý luận và hoạt động trong phong trào công nhân quốc tế, Nguyễn Tất Thành bất chấp mọi hiểm nguy, đến với Chủ nghĩa Mác Lê-nin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp cuối năm 1920, trở thành nhà hoạt động quốc tế xuất sắc Nguyễn Ái Quốc. Cũng từ đó, Chủ nghĩa Mác Lê-nin bắt đầu thâm nhập vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Cách mạng Việt Nam từ đây có một phương hướng mới, một bước ngoặt mới.
 
Ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đặt chân lên con tàu Amiral Latouche Treville tại bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh tư liệu
 
Kiên định đi theo con đường đó, sau hơn 30 năm bôn ba hành trình cứu nước, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công, thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là minh chứng cho sự lãnh đạo tài tình, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, rèn luyện.

Đến nay, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội tiếp tục là đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thực tiễn sinh động của sự nghiệp đổi mới là minh chứng hùng hồn khẳng định chân lý: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Dù thời gian đã lùi xa hơn một thế kỷ, nhưng sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước 113 năm trước vẫn mãi là tấm gương sáng ngời về tinh thần yêu nước, ý chí Cách mạng, sẵn sàng hiến dâng cuộc đời mình cho đất nước, cho nhân dân. Đó còn là bài học về nghĩa vụ, trách nhiệm với quê hương đất nước, tinh thần học tập sáng tạo, độc lập tự chủ, tận trung với nước, tận hiếu với dân đối với các thế hệ thanh niên Việt Nam và đối với mỗi người dân Việt Nam hôm nay.

Sau 113 năm sự kiện ngày 5-6-1911, suy ngẫm từng dấu mốc trưởng thành về nhận thức và hành động cách mạng của Nguyễn Tất Thành, ta càng thêm cảm phục, càng thêm tin tưởng và kiên định con đường do Người đã lựa chọn, trải qua, sáng lập và rèn luyện Đảng ta; truyền cảm hứng lịch sử cách mạng cho đồng bào ta; để lại kho báu giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh như luồng ánh sáng của hiện tại và tương lai. Khắc ghi công ơn trời bể của Người, mỗi cán bộ, đảng viên, người dân yêu nước càng thêm vững vàng bước tiếp con đường mà Người đã lựa chọn và dẫn lối cho dân tộc ta đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác.

Tác giả bài viết: Gia Phúc

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập87
  • Hôm nay27,270
  • Tháng hiện tại497,874
  • Tổng lượt truy cập20,010,936
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây